
Cái lạnh thấu xương đột ngột ào đến từng con ngõ nhỏ trên
khắp phố phường Hà Nội. Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn nhấp chén trà xanh nóng hổi
như để xua tan bớt giá buốt đang chực len lỏi vào trong căn phòng, rồi bảo tôi,
tuổi già như ông sợ nhất là trời trở rét. Cái lạnh sẽ làm cho căn bệnh loãng
xương trong ông đau nhức, rồi bệnh tiểu đường với những biến chứng có thể ập
đến với ông bất cứ lúc nào. Vậy mà khi tôi gợi chuyện ông nói về "con
đường tự học" của ông, về những kỷ niệm trong suốt cuộc đời tâm huyết làm
thầy và cả về những vấn đề thế sự của giáo dục nước nhà, giọng Giáo sư chợt náo
nức, như tất cả mới chỉ xảy ra ngày hôm qua, còn tươi nguyên trong ký ức.
So với lần tôi trò chuyện với
Giáo sư cách đây 5 năm, giờ ông yếu hơn nhiều. Giáo sư chỉ tay về phía tôi nói
rằng, bóng dáng tôi chỉ lờ mờ trước mắt ông thôi, bởi một mắt của ông đã bị mù,
hậu quả của căn bệnh đục thuỷ tinh thể, con mắt còn lại giờ cũng mờ đục. Vậy
nên nhiều ngày tháng nay, ông không thể viết được một bài báo nào, ông không
đọc nổi một bài báo nhỏ. Phương tiện liên lạc duy nhất giúp ông hiểu biết tình
hình thời sự lúc này là chiếc ra đi ô nhỏ. Ông bảo, ơn trời mà đôi tai ông còn
nghe được rõ ràng.
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn kể, ông
sinh năm 1926 ở Đô Lương, Nghệ An. Nhắc đến Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn không thể
không nhắc đến "con đường tự học" đã gần như theo ông suốt cuộc đời,
con đường do ông xây dựng nên bằng ý chí phi thường và một tình yêu khoa học
lớn lao. Cha ông là một nhà nho nhưng cha chỉ dạy được cho ông đến lớp ba, sau
đó cha đưa ông ra trường ngoài để ông được học tiếng Pháp. Từ bé, ông đã nổi
tiếng là cậu bé thông minh, hiếu học và một khả năng khám phá thế giới lạ kỳ…
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn tâm sự:
"Tôi sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, việc học hành luôn bị dở dang,
đứt đoạn. Vì thế tự học là điều hết sức cần thiết để tôi bù đắp những thiếu hụt
của mình. Trong học tập, nếu thiếu chủ động, thầy ra bài nào làm bài ấy, sách
có thế nào học thế ấy, hiệu quả sẽ không cao. Có người bảo tôi, anh đừng chủ
quan, tưởng mình tự học thành công thì ai cũng có thể tự học thành công. Theo
tôi, mọi người đều có khả năng tự học nhiều hay ít, trừ khi bị những khuyết tật
tâm thần. Biết vun vén thì khả năng đó sẽ phát triển".
Năm 1938, ông học xong tiểu học
rồi thi vào Trường Quốc học Vinh. Năm 1942 ông thi đỗ cao đẳng tiểu học, rồi đỗ
vào trường quốc học Huế, học ban tú tài. Nhờ "nhảy lớp" từ năm thứ
nhất tú tài lên thẳng năm thứ ba tú tài chuyên toán, nên năm 1944, ông đỗ tú
tài toàn phần và thi đỗ vào Trường Đại học Khoa học ở Hà Nội để học chứng chỉ
toán học đại cương.
Năm 1947, ông được tuyển làm giáo
viên toán ở trình độ cao nhất của Trường Quốc học Huế. Tính từ thời điểm này,
cho đến năm 1976, khi ông được cử làm Thứ trưởng Bộ GD & ĐT, Giáo sư Nguyễn
Cảnh Toàn đã có trọn 30 năm dạy học, từ dạy phổ thông trung học đến dạy đại học
và sau đại học.
Ở cương vị Thứ trưởng Bộ GD-ĐT,
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đã có nhiều "sáng tạo", "cải tổ".
Ông đã đề xuất việc đào tạo từ xa giáo viên THPT. Giáo sư đã xoá bỏ cách làm
của người tiền nhiệm trong việc bồi dưỡng giáo viên theo cách bồi dưỡng cốt cán
cấp trên để họ về tổ chức bồi dưỡng lại cho cốt cán cấp dưới. Chính ông đã mạnh
dạn chủ trương và chỉ đạo việc thành lập hai khoa mẫu giáo và tiểu học ở Trường
ĐH Sư phạm.
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cũng là
người Việt Nam đầu tiên tự nghiên cứu sinh ở trong nước trong điều kiện thiếu
thầy, thiếu sách vở, chiến tranh, rồi sang Liên Xô bảo vệ luận án tiến sỹ (năm
1958), rồi tiến sỹ khoa học. Đứng trước Trường Đại học Tổng hợp Lomonoxop rộng
lớn, bề thế, lòng ông đầy lo lắng, hồi hộp: "Ở đây, với nhiều bộ óc thông
minh đã nghiên cứu, tìm tòi ra nhiều điều mới mẻ, liệu công trình khoa học của
mình có còn mới với họ không? Nhưng cuối cùng, công trình của thầy giáo Nguyễn
Cảnh Toàn đã được đánh giá cao, trở thành luận án phó tiến sỹ đầu tiên của
người Việt Nam tự nghiên cứu trong nước.
Người phản biện, GS.TS Toán Lí -
A.A. Glagolep đã nhận xét: "Theo tôi, Nguyễn Cảnh Toàn là một nhà hình học
xạ ảnh thiên tài, tinh thông cả về phương pháp tổng hợp lẫn phương pháp giải
tích". Ngay sau đó, Bộ trưởng Bộ GD & ĐT Tạ Quang Bửu đã cho dịch và
in toàn văn nhận xét trên ở "Tập san Toán Lí" tháng 9/1963. Đến luận
án tiến sĩ khoa học, cũng nhờ vốn tư duy biện chứng, ông đã vượt qua được thách
thức trong lịch sử toán học khi đưa ra kết luận: "Xa vô tận chỉ là tương
đối", khác hẳn với quan niệm "Xa vô tận là tuyệt đối" trong
không gian Ơclit hay phi Ơclit.
Từ "phát minh" đó, Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đã
khái quát lên thành một lý thuyết bao trùm mang tên "Hình học siêu phi
Ơclit". Đó chính là "Hình học Nguyễn Cảnh Toàn". Ông sớm nhận ra
rằng, một đất nước phát triển là một đất nước có nguồn nhân lực cao, nếu chỉ
chờ đợi đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài thì không đáp ứng nổi nhu cầu, hơn nữa
không tạo ra được môi trường khoa học trong nước. Do đó ông là người đi tiên
phong trong việc đề ra chủ trương đào tạo tiến sỹ trong nước. Chủ trương này
của ông sau đó đã trở thành hiện thực, Nhà nước cho phép mở đào tạo nghiên cứu
sinh vào năm 1976 và đến nay đã trở thành một chiến lược giáo dục lớn.
Theo CAND Online